Thảm họa lũ quét ở Nepal đã bộc lộ những lỗ hổng khiến hệ thống cảnh báo sớm bất lực trước sức tàn phá khủng khiếp của thiên nhiên.
Hơn một tuần sau trận lũ quét thảm khốc do vỡ băng trên dãy Himalaya tàn phá khu vực biên giới giữa Nepal và Trung Quốc, giới chức hai nước vẫn trong quá trình tìm kiếm, xác định danh tính các nạn nhân. Theo số liệu thống kê mới nhất, trận lũ quét đã khiến hơn 1.270 người chết và hơn 4.700 người mất tích.
Trong lúc các nỗ lực cứu nạn và phục hồi sau thảm họa tiếp diễn, nhiều câu hỏi được đặt ra về hệ thống cảnh báo sớm và phòng chống thiên tai của Nepal.
Những ngôi nhà sụp đổ nằm chơ vơ bên sông Trishuli, huyện Nuwakot, Nepal, ngày 4/9, hơn một tuần sau thảm họa lũ quét. Ảnh: AFP
Thảm họa đến quá nhanh
Theo báo cáo từ liên minh chuyên gia HiRISK, tổ chức chuyên cung cấp dữ liệu rủi ro cho vùng núi cao châu Á, thảm họa bắt đầu lúc 8h37 sáng 26/8, khi khối băng khổng lồ trên đỉnh núi Langtang Lirung cao 7.234 m ở Nepal đổ sập, cuốn theo đất đá xuống thung lũng sông Trishuli bên dưới. Trishuli là con sông biên giới bắt nguồn từ Tây Tạng và là nhánh chính của lưu vực sông Gandaki tại miền trung Nepal.
Lượng băng, đá khổng lồ ập xuống sông Trisuli tạo ra trận lũ quét với tốc độ trung bình lên tới 193 km/h, cuốn phăng mọi thứ trên đường tới thị trấn biên giới Cát Long của Trung Quốc, trước khi đổ ập xuống các ngôi làng của Nepal ở hạ lưu sông.
Các nhà khoa học Trung Quốc cho biết họ cùng các đồng nghiệp Nepal đã phát triển một hệ thống cảnh báo sớm xuyên biên giới để giám sát các hồ băng trên dãy Himalaya. Hệ thống này từng phát cảnh báo kịp thời trong vài năm qua, giúp ngăn ngừa thiệt hại ở hạ lưu.
Nhưng trong trận lũ quét hôm 26/8, mọi thứ diễn ra quá bất ngờ. Tờ Kathmandu Post cho hay 23 phút sau khi khối băng sụp đổ, lãnh đạo huyện Rasuwa mới báo cho Cục Khí tượng Thủy văn Nepal. 15 phút sau đó, lệnh sơ tán được phát tới người dân 4 huyện Rasuwa, Nuwakot, Dhading và Chitwan, khi dòng lũ quét đã tràn qua các ngôi làng biên giới.
Khu vực này vốn quen với các đợt lũ mùa mưa, nhưng nước lũ thường dâng từ từ nên chính quyền vẫn có đủ thời gian cảnh báo và sơ tán dân. Giới chức cũng thường tập trung theo dõi nguy cơ vỡ hồ băng, trong khi hiện tượng sạt lở băng lại rất khó lường.
Trong bài viết trên Conversation, Prashidha Khatiwada, kỹ sư địa chấn và công trình tại đại học Công nghệ Swinburne, Australia, cho rằng trận lũ quét đã bộc lộ rõ những hạn chế của hệ thống cảnh báo hiện tại ở Nepal.
“Với những cộng đồng ở gần nguồn phát sinh thảm họa, các cảnh báo lũ thực sự đến quá muộn”, ông nói.
Báo cáo của HiRISK cho biết các hệ thống cảnh báo sớm mới được lắp đặt gần đây quanh một số hồ băng tại Trung Quốc nhưng khu vực này vẫn chưa có hệ thống nào hoạt động để ứng phó riêng với nguy cơ sạt lở băng.
“Do đợt sạt lở ban đầu càn quét quá nhanh, thời gian cảnh báo từ các hệ thống đo dòng chảy truyền thống gần như không thể bắt kịp, khiến người dân khó lòng sơ tán sớm”, báo cáo nhấn mạnh.
“Về lý thuyết, nếu phát hiện sớm trận sạt lở băng đá ở thượng nguồn, chúng ta sẽ có khoảng 20 phút để phát tín hiệu báo động. Thế nhưng thiết bị đo đạc ở khu vực này lại rất thiếu thốn. Đến khi cảm biến nhận ra điểm bất thường thì lũ bùn có thể đã trên đường lao xuống rồi”, Kang Shichang, chuyên gia về hiểm họa miền núi thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, giải thích.
Manoochehr Shirzaei, chuyên gia địa vật lý tại đại học Virginia Tech, cho hay ảnh vệ tinh chụp khối băng cùng lớp đá xung quanh vài ngày trước thảm họa đã ghi nhận dấu hiệu chuyển động nhanh bất thường.
“Chúng tôi cho rằng khối băng này có thể đã dịch chuyển trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, trước khi tăng tốc đột ngột vài tháng qua”, ông nói. “Hiện tượng này có thể xuất phát từ tình trạng ấm lên toàn cầu, lượng nước chảy ở đáy băng gia tăng hoặc do độ dốc biến đổi. Dù chưa rõ vết nứt chỉ nằm trong khối băng hay ăn sâu vào cả lớp đá nền, việc một lượng lớn băng đá tách ra, trôi trượt trên quãng đường dài đã gieo rắc thảm họa cho vùng hạ lưu”.
HiRISK lưu ý thảm họa này có một số dấu hiệu báo trước từ hôm 24/8, như bề mặt băng di chuyển nhanh bất thường và nước băng tan đã chuyển sang màu nâu đục. Tuy nhiên, các hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dòng chảy không thể phát hiện những điểm bất thường này.
Xu Baiqing, phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Cao nguyên Tây Tạng, cho biết sự cố xảy ra một phần vì hồ băng bị vỡ trước đó chưa được đưa vào danh sách mục tiêu giám sát trọng điểm của hệ thống cảnh báo.
“Sự việc cũng phơi bày mức độ nguy hiểm của những thiên tai dạng này khi biến động xảy ra quá đột ngột và sức ảnh hưởng lan rộng qua biên giới, khiến vùng hạ lưu không kịp trở tay” ông nói.
Nhiệm vụ bất khả thi
Tuyến hủy diệt của lũ quét Nepal. Video: BBC
Theo Khatiwada, để ngăn chặn thảm kịch tái diễn, Nepal cần nâng cao độ tin cậy của các hệ thống giám sát, lập bản đồ rủi ro sát thực tế hơn và tự động hóa mạng lưới cảnh báo. Việc phát tín hiệu không nên chỉ phụ thuộc vào điện thoại di động mà phải kết hợp các kênh dự phòng như còi hú, loa phát thanh và các đội ứng phó nhanh tại chỗ.
Các công nghệ phát hiện sớm nguy cơ sạt lở băng vốn không còn xa lạ. Vụ lở băng Birch trên dãy Alps, Thụy Sĩ, năm 2025 là ví dụ điển hình. Nhờ sớm phát hiện những chuyển động bất thường của khối băng, chính quyền đã kịp sơ tán toàn bộ người dân Blatten ngay trước khi trận sạt lở vùi lấp phần lớn ngôi làng.
Tuy nhiên, nhà địa chất Philip Prince tại Đại học Virginia Tech đánh giá việc triển khai hệ thống cảnh báo ở Himalaya lại là câu chuyện hoàn toàn khác, bởi địa hình nơi đây hiểm trở hơn nhiều, trong khi diện tích lại quá lớn.
Theo Shirzaei, các công nghệ giám sát hiện nay vẫn chưa đủ sức dự báo những sự cố tương tự trận lũ quét ngày 26/8. Ông cho rằng cần xây dựng các hệ thống cảnh báo đa tầng để không chỉ ngăn ngừa nguy cơ sạt lở băng đá, mà còn chặn đứng những thảm họa dây chuyền do chúng gây ra.
Giải pháp có thể bao gồm mở rộng giám sát qua vệ tinh để phát hiện sớm các điểm nóng và những chuyển động bất thường của băng, kết hợp với xây dựng kịch bản ứng phó và theo dõi sát sao tại hiện trường khi điều kiện cho phép. Dù vậy, mọi nỗ lực đo đạc chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi kèm một hệ thống truyền tin cảnh báo nhanh chóng, kịp thời đến tận người dân trong khu vực.
“Chúng ta hoàn toàn có công nghệ để dựng nên một hệ thống cảnh báo sớm tin cậy, nhưng bắt buộc phải triển khai theo nhiều tầng”, ông nói. “Và tất cả chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đi liền với kế hoạch ứng phó cùng các buổi diễn tập thường xuyên để người dân biết chính xác phải làm gì và di chuyển đến đâu ngay khi có báo động”.
Nhưng Prince cho rằng mô hình giám sát, cảnh báo tinh vi như vậy gần như bất khả thi trước những thực tế khắc nghiệt ở Himalaya. Bên cạnh đó, quy mô đồ sộ của dãy núi cao nhất thế giới khiến các nhà khoa học khó lòng biết nên tập trung vào đâu giữa hàng trăm khối băng khổng lồ có nguy cơ sụp đổ.

Đường đi của lũ quét như sóng thần ở biên giới Nepal – Trung Quốc ngày 26/8. Đồ họa: Reuters
“Nguồn lực cần thiết để theo dõi toàn bộ các điểm có nguy cơ sụp đổ tương tự trên khắp dãy Himalaya thực sự là một con số khổng lồ”, Prince nói.
Shirzaei nhấn mạnh việc ứng phó thiên tai tại vùng núi chung này đòi hỏi các nước phải tăng cường hợp tác xuyên biên giới và chủ động chia sẻ dữ liệu. “Những dữ liệu giúp bảo vệ người dân phải được tiếp cận một cách dễ dàng từ bất cứ đâu”, ông cho hay.
📌 Bài viết này được đóng góp bởi người dùng và bản quyền thuộc về người dùng đã xây dựng bài viết. Bản quyền thuộc về tác giả gốc và chỉ dùng cho mục đích học tập và giao tiếp. Nếu có bất kỳ vi phạm nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi để xóa nó.










