Bảng xếp hạng tennis trực tuyến ngày 7/9 chứng kiến những biến động lớn khi Novak Djokovic rơi khỏi top 10 ATP, còn Elena Rybakina vượt Aryna Sabalenka để lần đầu chiếm ngôi số 1 thế giới.
Trong khi ATP và WTA chưa công bố bảng xếp hạng chính thức mới do US Open 2026 vẫn đang diễn ra, bảng xếp hạng trực tuyến cập nhật ngày 7/9 đã ghi nhận hàng loạt biến động đáng chú ý. Novak Djokovic bật khỏi top 10 ATP, còn Elena Rybakina vượt Aryna Sabalenka để lần đầu vươn lên số 1 thế giới.
Theo bảng xếp hạng trực tuyến, Djokovic rơi khỏi top 10 thế giới sau thất bại sớm ở US Open 2026
Djokovic rơi khỏi top 10 ATP
Biến động gây chú ý nhất ở ATP là Djokovic bị đẩy xuống vị trí thứ 11, mất 6 bậc so với bảng xếp hạng chính thức trước đó. Tay vợt Serbia hiện có 2.980 điểm, giảm tới 790 điểm sau khi dừng bước ngay vòng 1 US Open 2026. Đây là một cú tụt hạng đáng kể đối với chủ nhân 24 Grand Slam.
Djokovic bị Arthur Fils vượt qua. Tay vợt người Pháp tăng 1 bậc lên thứ 10 với 3.150 điểm và thiết lập thứ hạng cao nhất sự nghiệp, vượt qua thành tích tốt nhất trước đó là hạng 11.
Đáng chú ý, Djokovic và Frances Tiafoe hiện cùng có 2.980 điểm, nhưng Tiafoe đứng thứ 12. Tay vợt Mỹ đã tiến vào tứ kết US Open và đang có cơ hội tiếp tục cải thiện thứ hạng nếu tiến sâu hơn.
Ở phía trên, Jannik Sinner vẫn dẫn đầu với 11.500 điểm, nhưng nhà đương kim số 1 thế giới đã bị trừ tới 1.300 điểm do không dự giải để bảo vệ thành tích năm ngoái. Alexander Zverev đứng thứ hai với 7.890 điểm, tăng 100 điểm và đang tiến vào vòng 4 US Open.
Carlos Alcaraz đứng thứ ba với 5.560 điểm vì tạm bị trừ 1.600 điểm. Tay vợt Tây Ban Nha vẫn đang thi đấu tại tứ kết US Open và có thể nhanh chóng lấy lại điểm số nếu tiến sâu tại New York.
Shelton là một trong những người hưởng lợi lớn nhất từ những biến động tại nhóm đầu. Tay vợt Mỹ tăng tới 4 bậc, từ hạng 9 lên hạng 5, với 3.780 điểm. Shelton cũng đang có mặt ở tứ kết US Open, đồng nghĩa thứ hạng của anh vẫn còn khả năng tăng mạnh trước khi giải đấu khép lại.
Medvedev cũng tiến 2 bậc lên hạng 6 với 3.770 điểm, trong khi Flavio Cobolli tụt xuống thứ 7. Alex de Minaur đứng thứ 8, còn Taylor Fritz tăng 1 bậc lên thứ 9.
Ở nhóm 11-30, Lorenzo Musetti là một trong những cái tên chịu thiệt hại lớn nhất. Tay vợt Italy rơi 6 bậc xuống hạng 20 và mất 350 điểm sau khi dừng bước ở vòng 3 US Open.
Jiri Lehecka cũng tụt 5 bậc xuống thứ 24, trong khi Andrey Rublev giảm 1 bậc xuống hạng 25. Ngược lại, Jakub Mensik tăng 3 bậc lên thứ 15, Francisco Cerundolo tăng 2 bậc lên thứ 23 và Alejandro Tabilo tăng 2 bậc lên thứ 26.
Rybakina vượt Sabalenka, lần đầu lên số 1 WTA
Nếu ATP chứng kiến Djokovic bật khỏi top 10, WTA lại có sự kiện lớn hơn khi Elena Rybakina chính thức vượt Aryna Sabalenka trên bảng xếp hạng trực tuyến.

Rybakina tạm thời giữ ngôi đầu WTA
Rybakina tăng 1 bậc lên vị trí số 1 thế giới với 8.141 điểm. Đây là thứ hạng mới của tay vợt Kazakhstan, vượt qua thành tích tốt nhất trước đó là hạng 2.
Sabalenka tụt xuống thứ hai với 7.005 điểm sau khi bị trừ tới 1.570 điểm. Tay vợt Belarus vẫn đang góp mặt ở tứ kết US Open, do đó cuộc đua số 1 vẫn chưa hoàn toàn ngã ngũ cho đến khi giải đấu kết thúc.
Khoảng cách hiện tại giữa Rybakina và Sabalenka là 1.136 điểm. Jessica Pegula đứng thứ ba với 6.915 điểm, trong khi Coco Gauff xếp thứ tư với 6.704 điểm.
Mirra Andreeva giữ vị trí thứ 5, còn Linda Noskova tăng 300 điểm và đứng thứ 6. Đáng chú ý, Elina Svitolina tăng 2 bậc lên thứ 7, trong khi Karolina Muchova và Iga Swiatek lần lượt đứng thứ 8 và 9.
Iga Swiatek hiện đứng thứ 9 với 4.619 điểm, giảm 1 bậc và mất 190 điểm. Tay vợt Ba Lan vẫn còn thi đấu tại US Open, vì vậy thứ hạng cuối cùng của cô sẽ còn phụ thuộc vào kết quả tại New York.
Bảng xếp hạng tennis đơn Nam – ATP
|
TT |
Tay vợt |
Tuổi |
+-XH so với tuần trước |
Điểm |
|
1 |
Jannik Sinner (Italia) |
25 |
0 |
11.500 |
|
2 |
Alexander Zverev (Đức) |
29 |
0 |
7.890 |
|
3 |
Carlos Alcaraz (Tây Ban Nha) |
23 |
0 |
5.560 |
|
4 |
Félix Auger-Aliassime (Canada) |
26 |
0 |
3.890 |
|
5 |
Ben Shelton (Mỹ) |
23 |
+4 |
3.780 |
|
6 |
Daniil Medvedev (Nga) |
30 |
+2 |
3.770 |
|
7 |
Flavio Cobolli (Italia) |
24 |
-1 |
3.720 |
|
8 |
Alex de Minaur (Australia) |
27 |
-1 |
3.300 |
|
9 |
Taylor Fritz (Mỹ) |
28 |
+1 |
3.175 |
|
10 |
Arthur Fils (Pháp) |
22 |
+1 |
3.150 |
|
11 |
Novak Djokovic (Serbia) |
39 |
-6 |
2.980 |
|
12 |
Frances Tiafoe (Mỹ) |
28 |
0 |
2.980 |
|
13 |
Learner Tien (Mỹ) |
20 |
+2 |
2.755 |
|
14 |
Rafael Jódar (Tây Ban Nha) |
19 |
-1 |
2.659 |
|
15 |
Jakub Mensík (CH Czech) |
21 |
+3 |
2.495 |
|
16 |
Brandon Nakashima (Mỹ) |
25 |
+1 |
2.485 |
|
17 |
Alexander Bublik (Kazakhstan) |
29 |
-1 |
2.435 |
|
18 |
Casper Ruud (Na Uy) |
27 |
+2 |
2.335 |
|
19 |
Tommy Paul (Mỹ) |
29 |
+2 |
2.325 |
|
20 |
Lorenzo Musetti (Italia) |
24 |
-6 |
2.255 |
|
21 |
Valentin Vacherot (Monaco) |
27 |
+2 |
2.250 |
|
22 |
Luciano Darderi (Italia) |
24 |
0 |
2.200 |
|
23 |
Francisco Cerundolo (Argentina) |
28 |
+2 |
2.130 |
|
24 |
Jiri Lehecka (CH Czech) |
24 |
-5 |
2.120 |
|
25 |
Andrey Rublev (Nga) |
28 |
-1 |
1.930 |
|
26 |
Alejandro Tabilo (Chile) |
29 |
+2 |
1.778 |
|
27 |
Joao Fonseca (Brazil) |
20 |
-1 |
1.750 |
|
28 |
Alejandro Davidovich Fokina (Tây Ban Nha) |
27 |
-1 |
1.730 |
|
29 |
Tomas Martín Etcheverry (Argentina) |
27 |
+3 |
1.590 |
|
30 |
Alexander Blockx (Bỉ) |
21 |
+4 |
1.588 |
Bảng xếp hạng tennis đơn Nữ – WTA
|
TT |
Tay vợt |
Tuổi |
+-XH so với tuần trước |
Điểm |
|
1 |
Elena Rybakina (Kazakhstan) |
27 |
+1 |
8.141 |
|
2 |
Aryna Sabalenka (Belarus) |
28 |
-1 |
7.005 |
|
3 |
Jessica Pegula (Mỹ) |
32 |
0 |
6.915 |
|
4 |
Coco Gauff (Mỹ) |
22 |
0 |
6.704 |
|
5 |
Mirra Andreeva (Nga) |
19 |
0 |
5.553 |
|
6 |
Linda Nosková (CH Czech) |
21 |
0 |
5.328 |
|
7 |
Elina Svitolina (Ukraine) |
31 |
+2 |
4.809 |
|
8 |
Karolína Muchová (CH Czech) |
30 |
-1 |
4.683 |
|
9 |
Iga Swiatek (Ba Lan) |
25 |
-1 |
4.619 |
|
10 |
Marta Kostyuk (Ukraine) |
24 |
+1 |
3.980 |
|
11 |
Amanda Anisimova (Mỹ) |
25 |
-1 |
3.363 |
|
12 |
Belinda Bencic (Thụy Sĩ) |
29 |
0 |
2.935 |
|
13 |
Diana Shnaider (Nga) |
22 |
+3 |
2.588 |
|
14 |
Victoria Mboko (Canada) |
20 |
+1 |
2.521 |
|
15 |
Sorana Cirstea (Romania) |
36 |
+2 |
2.464 |
|
16 |
Iva Jovic (Mỹ) |
18 |
-2 |
2.390 |
|
17 |
Naomi Osaka (Nhật Bản) |
28 |
-4 |
2.306 |
|
18 |
Alexandra Eala (Philippines) |
21 |
0 |
2.276 |
|
19 |
Elise Mertens (Bỉ) |
30 |
+1 |
2.165 |
|
20 |
Jasmine Paolini (Italia) |
30 |
+1 |
2.123 |
|
21 |
Ekaterina Alexandrova (Nga) |
31 |
-2 |
2.076 |
|
22 |
Anna Kalinskaya (Nga) |
27 |
+1 |
2.043 |
|
23 |
Madison Keys (Mỹ) |
31 |
+1 |
2.029 |
|
24 |
Emma Navarro (Mỹ) |
25 |
+3 |
2.024 |
|
25 |
Anastasia Potapova (Áo) |
25 |
0 |
1.926 |
|
26 |
Maja Chwalińska (Ba Lan) |
24 |
-4 |
1.888 |
|
27 |
Marie Bouzkova (CH Czech) |
28 |
-1 |
1.873 |
|
28 |
Sara Bejlek (CH Czech) |
20 |
+2 |
1.632 |
|
29 |
Ann Li (Mỹ) |
26 |
-1 |
1.573 |
|
30 |
Diane Parry (Pháp) |
24 |
+1 |
1.551 |
📌 Bài viết này được đóng góp bởi người dùng và bản quyền thuộc về người dùng đã xây dựng bài viết. Bản quyền thuộc về tác giả gốc và chỉ dùng cho mục đích học tập và giao tiếp. Nếu có bất kỳ vi phạm nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi để xóa nó.











