Ở tuổi 96, Đại úy Nguyễn Văn Tích, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263, vẫn nhớ rõ những trận đánh B-52 khốc liệt năm xưa. Những kinh nghiệm từ thực tiễn chiến đấu của ông và đồng đội đã góp phần để Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện tài liệu “Cách đánh B-52”, phổ biến cho các đơn vị tên lửa.
Ngày 29/9, tại xã Vũ Quý, tỉnh Hưng Yên, Trung đoàn Tên lửa 263, Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không – Không quân phối hợp với địa phương tổ chức lễ trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho Đại úy Nguyễn Văn Tích, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263.
Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đại diện Sư đoàn 367 đã trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho Đại úy Nguyễn Văn Tích.
Từ người chiến sĩ tham gia giành chính quyền năm 15 tuổi đến vị chỉ huy tên lửa phòng không trực tiếp chỉ đạo nhiều trận đánh B-52, ông Nguyễn Văn Tích đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Ở tuổi 96, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ông vẫn nhắc về những đồng đội đã ngã xuống nhiều hơn những chiến công của mình.
15 tuổi bắt đầu tham gia kháng chiến
Theo Báo Hưng Yên, ông Nguyễn Văn Tích sinh ngày 3/2/1930, đúng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Ông sớm chứng kiến cảnh quê hương bị áp bức, nhân dân lầm than. Năm 15 tuổi, ông tham gia giành chính quyền ở phủ, huyện, sau đó gia nhập Đội Nông dân cứu quốc và Đội du kích xã. Tháng 10/1950, ông nhập ngũ, bắt đầu cuộc đời binh nghiệp gắn liền với những năm tháng chiến đấu của dân tộc.
Ông Nguyễn Văn Tích, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 263. Ảnh: TTXVN.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông trực tiếp tham gia bảo vệ các tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí. Năm 1952, ông được kết nạp Đảng, từng bước trưởng thành từ một chiến sĩ đến cán bộ chỉ huy.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông chuyển sang lực lượng pháo binh, đảm nhiệm nhiều vị trí công tác. Những năm tháng thực tiễn chiến đấu giúp ông tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện bản lĩnh và tư duy của người chỉ huy luôn tìm tòi cách đánh phù hợp với từng loại mục tiêu.
Năm 1965, khi bộ đội tên lửa phòng không ra đời, ông được cử đi đào tạo, huấn luyện sử dụng loại vũ khí mới. Từ đây, ông trở thành cán bộ chỉ huy chiến đấu của lực lượng tên lửa, tham gia cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ ở miền Bắc.
Tháng 7/1967, trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 56, Trung đoàn Tên lửa 263, Sư đoàn 361, ông bắt đầu ghi dấu trên trận tuyến bảo vệ bầu trời Hà Nội.
Ngày 2/1/1969, khi máy bay không người lái 147J của Mỹ vào do thám Hà Nội, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh trả. “Lúc ấy phải bình tĩnh lắm. Máy bay trinh sát của địch bay cao, tốc độ nhanh, mục tiêu lại nhỏ. Phải nắm chắc quy luật hoạt động của nó, chờ đúng thời cơ mới đánh”, ông nhớ lại.
Từ ngày 2/1 đến 28/8/1969, với tinh thần mưu trí, quyết đoán, sáng tạo và linh hoạt, ông trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 56 đánh 4 trận, bắn rơi 4 máy bay không người lái của Mỹ. Kinh nghiệm chiến đấu của đơn vị sau đó được tổng hợp thành tài liệu, phổ biến cho các đơn vị khác.
Ngày 30/8/1969, Tiểu đoàn 56 vinh dự đón nhận lẵng hoa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là lẵng hoa cuối cùng Người tặng quân và dân ta trước khi đi xa. Với ông Tích, đây là một trong những kỷ niệm thiêng liêng nhất trong cuộc đời quân ngũ.
Tìm cách đánh B-52 từ thực tiễn chiến trường
Năm 1970, ông được giao làm Tham mưu trưởng, sau đó là Trung đoàn phó Trung đoàn 263. Cũng từ đây, ông cùng đồng đội bước vào cuộc đối đầu với B-52, loại máy bay ném bom chiến lược được Mỹ sử dụng trong các cuộc tập kích đường không quy mô lớn.
“B-52 khác hẳn những loại máy bay chúng tôi từng đánh, nhiễu rất mạnh, tín hiệu mục tiêu khó phát hiện. Những trận đầu rất khó khăn, nhưng đánh rồi phải rút kinh nghiệm, không thể cứ giữ cách đánh cũ”, ông kể.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Thủ trưởng Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không – Không quân trao Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân cho Đại úy Nguyễn Văn Tích. Ảnh: TTXVN.
Từ thực tiễn chiến đấu, Trung đoàn 263 từng bước tìm ra phương án tác chiến phù hợp. Rạng sáng 12/10/1972, ông Tích cùng Trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quảng trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 43 phóng hai quả đạn vào tốp B-52, bắn hạ một chiếc.
Đêm 22/11/1972, tại khu vực Đô Lương, Thanh Chương (Nghệ An), ông cùng Phó Chính ủy Cù Sĩ Điện trực tiếp chỉ huy Trung đoàn đánh hai tốp B-52.
“Đêm hôm đó, chúng tôi phát hiện mục tiêu. Không chần chừ, khi thời cơ đến là phải quyết đoán. Chỉ trong ít phút, hai chiếc B-52 bị bắn hạ”, ông Tích nhớ lại.
Trận đánh ngày 22/11/1972 của Trung đoàn 263 sau đó được Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện tài liệu “Cách đánh B-52” để phổ biến cho các đơn vị tên lửa. Những kinh nghiệm đúc rút từ chiến trường đã góp phần nâng cao khả năng tác chiến của lực lượng phòng không trước các đợt tập kích bằng máy bay chiến lược của Mỹ.
Trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, khi Mỹ mở cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội và một số địa phương miền Bắc, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B-52. Riêng Quân chủng Phòng không – Không quân bắn rơi 53 máy bay, gồm 32 chiếc B-52, trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ.
Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Sau chiến thắng, Trung đoàn 263 tiếp tục chiến đấu bảo vệ các đầu mối giao thông chiến lược trên địa bàn Quân khu 4, tuyến vận chuyển quan trọng chi viện cho chiến trường miền Nam.
Ngày 4/1/1973, Tiểu đoàn 41 bắn rơi một máy bay B-52. Sáu ngày sau, Tiểu đoàn 56 lập thêm chiến công tương tự. Rạng sáng 14/1, Tiểu đoàn 43 và Tiểu đoàn 56 tập trung hỏa lực đánh tốp B-52, bắn rơi hai chiếc. Đây cũng là hai máy bay Mỹ cuối cùng bị bắn rơi ở miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nhắc lại những chiến công ấy, ông Tích không nhận về mình mà trầm ngâm nói: “Chiến công là của cả đơn vị. Người chỉ huy chỉ làm nhiệm vụ của mình, còn để có được kết quả ấy là công sức, xương máu của rất nhiều cán bộ, chiến sĩ”.
Trở về sau chiến tranh, tiếp tục cống hiến cho quê hương
Ngày 15/1/1973, Trung đoàn 263 nhận lệnh cơ động vào bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, ông Tích được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng.
Đầu năm 1975, thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, ông cùng cán bộ chỉ huy tổ chức cho toàn Trung đoàn hành quân, đưa khí tài vượt Trường Sơn, qua đất bạn Lào vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày 15/5/1975, ông vinh dự chỉ huy đoàn xe kéo đạn tên lửa của Trung đoàn 263 tham gia diễu binh mừng chiến thắng trên đường phố Sài Gòn vừa giải phóng.

Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Phạm Quang Ngọc tặng hoa chúc mừng Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tích. Ảnh: TTXVN.
Giữa niềm vui đất nước thống nhất, người chỉ huy năm ấy không khỏi nhớ về những người thân và đồng đội đã hy sinh. Ông nhớ người em trai ngã xuống trong kháng chiến chống thực dân Pháp, người con trai cả nhập ngũ năm 1968, hy sinh tại chiến trường năm 1971. Trong dòng ký ức ấy còn có những đồng đội đã nằm lại trên các chặng đường chiến đấu, những người không thể trở về dự ngày hội non sông.
“Những người đã hy sinh, cùng biết bao cán bộ, chiến sĩ, đã góp phần làm nên chiến thắng. Nhờ họ mà chúng tôi, những người may mắn còn sống, mới có mặt trong ngày vui ấy”, ông từng chia sẻ.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục phục vụ trong Quân chủng Phòng không – Không quân. Năm 1982, ông nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, trở về xã Vũ Quý, tiếp tục tham gia công tác tại địa phương.
Người lính năm xưa đảm nhiệm nhiều công việc trong tổ chức Đảng, chính quyền, Hội Cựu chiến binh; tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, hoạt động đền ơn đáp nghĩa và các phong trào ở quê nhà.
Ông được Đảng, Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba và Huy hiệu Bác Hồ…
📌 Bài viết này được đóng góp bởi người dùng và bản quyền thuộc về người dùng đã xây dựng bài viết. Bản quyền thuộc về tác giả gốc và chỉ dùng cho mục đích học tập và giao tiếp. Nếu có bất kỳ vi phạm nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi để xóa nó.











