Vụ khoảng 40 người nhập viện nghi ngộ độc khí clo ở Hà Nội: Trách nhiệm pháp lý thuộc về ai?

Khoảng 40 người nghi ngộ độc sau vụ rò rỉ khí clo tại bãi phế liệu ở xã Thượng Phúc, Hà Nội, trong đó 2 người nhiễm độc nặng phải điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai. Dưới góc nhìn luật sư, trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan được xác định thế nào?

Công an thông tin vụ rò rỉ khí clo khiến khoảng 40 người nghi ngộ độc

Liên quan đến vụ hàng chục nạn nhân nghi ngộ độc khí clo tại xã Thượng Phúc, Hà Nội, tối 19/10, Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ Công an TP Hà Nội cho biết, qua nắm bắt thông tin, công an xác định khí clo rò rỉ từ đống phế liệu của ông Nguyễn Hữu Đ. (SN 1979, trú tại xóm Đình Tổ, thôn Mễ Sơn, xã Thượng Phúc).

Trong số khoảng 40 người nghi ngộ độc, 38 người là hàng xóm sống quanh khu vực, đang được kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện Đa khoa Thường Tín.

Bãi tập kết phế liệu, nơi xảy ra vụ rò rỉ khí clo. Ảnh: Tiến Thành.

Bãi tập kết phế liệu, nơi xảy ra vụ rò rỉ khí clo. Ảnh: Tiến Thành.

Hai nạn nhân là ông N.H.T. (SN 1976, trú tại thôn Mễ Sơn, xã Thượng Phúc) và ông N.V.L. (SN 1989, quê quán xã Giao Minh, Ninh Bình) bị nhiễm độc nặng, đang điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.

Nhận được tin báo, Đội Chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ khu vực số 32 thuộc Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ đã điều động một xe chữa cháy cùng cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường. Khoảng 14h48, lực lượng và phương tiện của đơn vị có mặt tại khu vực xảy ra vụ rò rỉ khí.

Chỉ huy đơn vị tổ chức một tổ trinh sát hiện trường, xác định khu vực vẫn còn khí clo. Các cán bộ, chiến sĩ sau đó triển khai phun nước nhằm làm giảm nồng độ khí clo trong không khí.

Ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Thường Tín, cho biết, do số lượng bệnh nhân được đưa đến trong thời gian ngắn, bệnh viện đã huy động nhân lực, trang thiết bị và phương tiện phục vụ công tác cấp cứu.

Lãnh đạo bệnh viện trực tiếp chỉ đạo việc tiếp nhận, xử trí các trường hợp nghi ngộ độc. Hiện nguyên nhân vụ việc và tình trạng sức khỏe cụ thể của các nạn nhân đang tiếp tục được làm rõ.

Trách nhiệm hình sự đặt ra khi nào?

Trao đổi với PV Dân Việt, tiến sĩ luật Đặng Văn Cường cho biết, pháp luật quy định chặt chẽ về bảo đảm an toàn hóa chất và cảnh báo nguy hiểm.

Luật Hóa chất số 69/2025/QH15 quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động hóa chất, từ nhận diện, cung cấp thông tin về đặc tính nguy hiểm đến bảo quản, vận chuyển, sử dụng và phòng ngừa, ứng phó sự cố. Các yêu cầu cụ thể được áp dụng tùy theo loại hóa chất và hoạt động có liên quan.

Đối với hóa chất nguy hiểm, việc xác định thành phần, cảnh báo nguy cơ, hướng dẫn sử dụng, bảo quản, vận chuyển và ứng phó sự cố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng ngừa tai nạn.

Trong trường hợp xác định bình chứa có khí clo hoặc loại khí độc khác, cơ quan chức năng cần kiểm tra nhãn, thông tin cảnh báo trên bình, phiếu an toàn hóa chất có liên quan, điều kiện bảo quản, quy trình thao tác, trang thiết bị bảo hộ và biện pháp ứng phó khi xảy ra rò rỉ.

Nếu bình đã được loại khỏi dây chuyền sản xuất và chuyển giao cho cơ sở thu mua phế liệu, cần làm rõ trách nhiệm của các bên trong việc xác định tình trạng bình, thông báo nguy cơ và bảo đảm an toàn khi bàn giao, vận chuyển, tiếp nhận, xử lý.

Tuy nhiên, ông Cường nhấn mạnh, không phải mọi sự cố rò rỉ khí độc đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Việc xử lý phải dựa trên kết quả xác minh hành vi vi phạm, lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, cùng các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật.

Lực lượng chức năng xử lý sự cố rò rỉ khí clo. Ảnh: Tiến Thành.

Lực lượng chức năng xử lý sự cố rò rỉ khí clo. Ảnh: Tiến Thành.

Nếu phát hiện vi phạm về quản lý, bảo quản, vận chuyển hoặc sử dụng hóa chất nguy hiểm nhưng hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tương ứng.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cũng có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự khi có đủ căn cứ.

Trường hợp phát hiện vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động hoặc an toàn ở nơi đông người, cơ quan điều tra có thể xem xét dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người” theo Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung.

Việc áp dụng điều luật này phải căn cứ vào quy định an toàn bị vi phạm, hoàn cảnh xảy ra sự cố, hành vi, lỗi, hậu quả thực tế và các điều kiện luật định. Không thể mặc nhiên xác định tội danh chỉ vì sự cố xảy ra tại cơ sở phế liệu hoặc ảnh hưởng đến nhiều người.

Nếu không thuộc trường hợp áp dụng Điều 295, cơ quan điều tra có thể đánh giá dấu hiệu của tội “Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” theo Điều 138 khi đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định. Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể là căn cứ quan trọng khi xem xét tội danh này.

Trường hợp có người tử vong, việc xác định tội danh phải tiếp tục căn cứ vào hành vi, lỗi và nguyên nhân dẫn đến hậu quả; có thể xem xét Điều 128 về tội “Vô ý làm chết người” hoặc điều luật khác phù hợp.

Bên cạnh việc làm rõ trách nhiệm pháp lý, cần kịp thời khắc phục hậu quả, hỗ trợ người bị nạn và giải quyết việc bồi thường thiệt hại khi có đủ căn cứ. Người bị thiệt hại có thể là người trực tiếp làm việc tại nơi xảy ra sự cố hoặc người dân sống gần khu vực khí độc phát tán.

📌 Bài viết này được đóng góp bởi người dùng và bản quyền thuộc về người dùng đã xây dựng bài viết. Bản quyền thuộc về tác giả gốc và chỉ dùng cho mục đích học tập và giao tiếp. Nếu có bất kỳ vi phạm nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi để xóa nó.